Trong đầm đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Bài ca dao kết hợp giữa lối tả chân, với phép tượng trưng, ẩn dụ. Hình tượng cây sen trong đầm được giới thiệu, miêu tả cụ thể, chính xác vừa chân thực sống động, vừa mang tính tượng trưng và khái quát rất cao. Tính chất ẩn dụ, tượng trưng nổi bật nhất ở câu cuối cùng, nhưng ngay ở câu này trước hết vẫn là sự tả thực về cây sen ở trong đầm. Ở đây, nội dung nội dung và thẩm mĩ triết lí, nhân sinh gắn liền với nội dung sinh vật học tạo ra sự đa dạng, phong phú và vẻ đẹp tuyệt vời của một bài ca dao.
Câu thứ nhất: “Trong đầm gì đẹp bằng sen” đã khẳng định và tuyệt đối hóa vẻ đẹp của cây sen ở trong đầm. Sự tuyệt đối hóa ở đây được nhấn mạnh trong một phạm vi không gian cụ thể, có giới hạn nên người nghe, người đọc lại không có cảm giác khó chịu mà cho rằng đó là sự đánh giá cực đoan, khiên cường thái quá.Câu thứ hai: “Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng” miêu tả từng bộ phận trong cây sen để cụ thể hóa cho vẻ đẹp của hoa sen. Nhân dân đã quan sát hoa sen từ ngoài vào trong, rất tự nhiên, hợp lí. Từ “lại” có tác dụng nhấn mạnh sự đa dạng về màu sắc của cây sen, từ “chen” diễn tả cây sen vừa có hoa vừa có nhị, chứng tỏ đây là một bông sen vừa mới nở.
Câu thứ ba: “Nhị vàng, bông trắng, lá xanh” có thể xem là câu chuyển để chuẩn bị cho câu kết. Điều đặc biệt là sự “chuyển” được thể hiện trên cả ba phương diện: chuyển vần, chuyển nhịp, chuyển ý.
- Chuyển vần: vần thay đổi đột ngột khác thường từ vần “ang” sang vần“anh” mà vẫn dễ đọc, thuận tai khiến cho nhiều người không để ý vì thấy rất tự nhiên và hợp lí. Huy Cận đã nhận xét là: “Hầu như bạn (và tôi) không bao giờ để ý bài thơ đã đổi vần đột ngột. Người tác giả vô danh đã chấn động sâu mạnh trong cảm xúc của bạn mà cứ tiếp thu hồn nhiên như không”.
- Chuyển ý: tác giả nhắc lại ý của câu thơ thứ hai “Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng” thành“Nhị vàng, bông trắng, lá xanh” bằng cách đảo ngược thứ tự các chi tiết. Câu thơ này còn có tác dụng như cái bản lề, khép lại vẻ đẹp bên ngoài và đem đến cho người đọc ý nghĩa, giá trị đích thực của hoa sen.
Tất cả sự chuyển đổi ấy đã được thực hiện một cách khéo léo, tự nhiên, hợp lí, khiến cho bài ca dao cứ phát triển liên tục và ngày càng mạnh mẽ về cả nội dung lẫn hình thức; không có chỗ nào bế tắc ngưng trệ; tựa hồ như một dòng sông,tuy có chỗ chuyển dòng, đổi hướng uốn lượn quanh co nhưng vẫn chảy thông, chảy mạnh.
Sự sắp đặt thứ tự các hình tượng và từ ngữ trong hai câu thơ trên chẳng những phản ảnh được quá trình quan sát, tư duy của tác giả mà còn phản ánh được một cách tổng quát vẻ đẹp của hoa sen nhìn từ mọi góc độ: nhìn từ ngoài vào trong hay nhìn từ trong ra ngoài hoa sen đều đẹp cả.
Câu thứ tư: “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” được xem là cái hồn của bài ca dao. Thiếu câu này hình tượng hoa sen vẫn tồn tại nhưng không có hồn. Câu thơ đã khép lại vẻ đẹp hình thức của hoa sen và mở ra vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất của loại “quốc hoa” này.
Từ hình tượng hoa sen với những vẻ đẹp giản dị, toàn diện, tác giả dân gian đã chuyển sang hình tượng con người với những ý nghĩa triết lí nhân sinh một cách tự nhiên ẩn chứa bên trong.
Và thế là “sen” mang ý nghĩa ẩn dụ về con người; “bùn” trong đầm lầy mang ý nghĩa ẩn dụ cho “bùn nhơ” trong xã hội; “đầm” và mùi “hôi tanh” của nócũng được coi là hình ảnh tượng trưng ẩn dụ cho môi trường xã hội …
Ngẫm cho kĩ, cái tiếng nói trong bốn câu ca dao trên có lẽ là tiếng nóikhẳng định giá trị, nhân phẩm của một con người tự hào đã giữ được bản chất trong trắng của mình giữa cuộc sống đầy rẫy những xấu xa. Đó là lẽ sống cao đẹp của con người Việt Nam từ ngàn đời nay.






TRONG ĐẦM GÌ ĐẸP BẰNG SEN
ANH TUẤN GHÉ THĂM THẦY TUẤN ANH . CHÚC THẦY VÀ GIA ĐÌNH MỘT BUỔI TỐI NGON GIẤC VỚI NHIỀU MỘNG ĐẸP .