Gốc > CHÂN DUNG ( văn nghệ sĩ) >
Nguyễn Văn Mươi @ 11:07 20/01/2014
Số lượt xem: 730
Thả lòng vào miền thi ca
Thả lòng vào miền thi ca
(Ngày đăng: 16/12/2013 6:49)
Tôi đã đọc nhiều bài thơ của Bành Thanh Bần trong thời gian gần đây. Ấn tượng đầu tiên đối với tôi là tấm lòng của một người biết chia sẻ. Không biết có phải những người thuộc thế hệ ông, từng kinh qua trận mạc, vào sinh ra tử cũng chỉ vì muốn mình và mọi người được sống trong hòa bình, ấm no và hạnh phúc, nên khi may được thoát ra khỏi cuộc chiến, trở lại với đời thường họ tìm đến với thơ, như là một phương cách hữu hiệu để chia sẻ yêu thương.
THẢ LÒNG VÀO MIỀN THI CA
Dẫu rằng sự tìm ấy không phải lúc nào cũng thành, khi nào cũng được, nhưng ông vẫn cứ đi tìm, chí ít là tìm được thơ. Qua thơ ông, tôi thấy phát lộ ra một điều rằng Bành Thanh Bần làm thơ không nhiều, nhưng lại có thú chơi thơ. Theo chỗ tôi biết, ở ta số người chơi thơ không nhiều. Người chơi thơ thường thuộc vào hai tuýp hoặc là nhà sưu tập thơ làm “của để dành” cho hậu thế, hoặc là người không còn mấy vướng bận đến giá áo túi cơm, nhưng có thú tiêu dao, đam mê văn chương nghệ thuật, đặc biệt là thơ. Bành Thanh Bần cũng không phải là trường hợp ngoại lệ.
Dù ở thể loại nào, thơ Bành Thanh Bần cũng hiện rõ thú tiêu dao, có bản sắc riêng. Bài “Với những người ăn mày chùa Hương” có mở đầu đơn giản, cứ như ông nói chơi vậy, nhưng lại khá bất ngờ và day dứt:
Tôi đến ăn mày Phật
Bạn lại ăn mày tôi
Những mảnh đời cơ nhỡ
Ngửa tay xin “lộc” người…”.
Gặp những người hành khất nơi cửa Phật, người thơ cũng chỉ đoán già đoán non vậy thôi: nông dân mất đất, nạn nhân của thiên tai, bão lũ, người chơi chứng khoán, kẻ lười lao động,…Nhưng người thơ và họ cùng đều chung số phận là những kẻ ăn mày, mỗi người một kiểu. Dù chẳng có nhiều mà chỉ “có chút đỉnh thôi”, nhưng ông vẫn sẵn sàng chia sẻ. Chỉ cho nhau sự “đồng cảm” thân phận trước sự trớ trêu của cuộc đời, mặc bạn là ai đi chăng nữa, cũng không tránh khỏi những lúc sa cơ lỡ vận. Phật đã dạy chúng sinh “Cứu một người phúc đẳng hà sa”, giúp được cho người, chí ít cũng làm lòng ta thanh thản hơn.
Đây là bài thơ về đề tài thế sự theo thể ngũ ngôn, một thể thơ khá thích hợp với lối suy đoán logic, nên gây được hiệu quả mang tính chất thông điệp. Rằng ở cõi nhân gian này, vòng đời mỗi người không phải là vô tận, nên con người cần phải thương yêu, giúp nhau khi hoạn nạn, dù anh là ai, làm gì và ở đâu.
Bài “Viếng mộ cụ Phùng Quán” được viết theo thể tự do mang đậm chất tự sự về nhân tình thế thái. Đây là bài thơ của người hậu thế viết về tiền nhân, nói về cụ Phùng Quán hay là tự răn mình? Có lẽ là cả hai:
Đầu gối sơn
Chân đạp thủy
Thi nhân - chiến sĩ
Như Cụ - mấy người
Những kẻ ngạo nghễ cười
Nay lặng câm như thóc…
Bởi lẽ, với những người: Từ tận cùng đau khổ/ “Tuổi thơ dữ dội” chào đời…thì chỉ cần “Ba phút sự thật” cũng đủ để “Hiển hiện bao nỗi đời”. Đáng sợ nhất là có những người cả đời chẳng có lấy một giây sự thật nào.
“Đêm trung thu ở chùa Bồ Đề” lại chất chứa lòng thương cảm đối với những đứa trẻ không may mắn bị mẹ bỏ rơi nơi cửa chùa. Nào đâu các em có tội tình gì. Nếu có, đấy phải là tội của người lớn và của đấng sinh thành ra các em. Nhưng biết oán trách ai bây giờ, một khi lẽ đời còn nhiều oan trái, lòng người còn lắm đổi thay:
Còn bao nhiêu ngang trái ở đời
Sinh con ra không thể nuôi con được
Bầu sữa cương đêm đêm nhức buốt
Mái chùa xa
Con khóc xé trời
Những mảnh đời lánh chốn trần ai
Khoác áo nâu sồng nương thân cửa Phật
Đêm tụng kinh chợt nghe tiếng khóc
Biết ngoài cổng chùa thêm đứa trẻ bỏ rơi…
Đọc những câu thơ này chẳng mấy ai cầm nổi nước mắt, xót thương cho những số phận cút côi. Cũng sinh ra làm kiếp con người, mà ngay khi mới cất tiếng khóc chào đời đã ngậm điều oan trái. Nếu không có đức Phật từ bi hỉ xả, thì không biết cuộc đời các em sẽ đi đâu, về đâu nơi chốn dương gian này. Bài thơ thật sự ám ảnh người đọc.
Sự vị tha của người vợ trong lễ động thổ vắng người chồng cũ quả là rất đáng
nể trọng. Chỉ có những con người đầy tấm lòng nhân ái mới có thể nghĩ và nói ra được điều không dễ nói chút nào. Từ khi tình tan vỡ, anh đi đằng anh, tôi đằng tôi. Dù vậy ngôi nhà mới xây anh đã đứng tên động thổ từ lâu rồi. Vượt qua sự oán trách, hờn ghen đối với người chồng cũ, khi biết rằng giọt nước đã tràn ly làm sao vớt lại được nữa, thì chỉ có tha thứ mới là diệu kế:
Vẳng đến tai em lời hàng xóm thì thào
Sao bố chúng không về phải mượn người động thổ?
Họ đâu biết từ khi tình tan vỡ
Anh lấy người ta
Ngôi nhà mới xây anh đã đứng tên động thổ rồi.
(Lễ động thổ vắng Anh)
Những bài thơ viết về đề tài thế sự của Bành Thanh Bần đã có những tìm tòi về cấu tứ, ngôn ngữ riêng, có thể coi là khá thành công của ông, vì nó ít nhiều cũng
đã chạm tới chỗ thẳm sâu của lòng người.
Với một người sống trọng tình như Bành Thanh Bần, thì những vần thơ như thế này có vẻ hợp với tạng của ông hơn:
Chợ Viềng
Bán rủi, mua may
Tôi đem bán lẻ chuỗi ngày đơn côi
Trong Đền, em khấn bên tôi
“Cầu duyên Tần - Tấn
... mong Người độ tâm”
Chắp tay tôi khấn thì thầm
Sợ ai nghe- chỉ lầm rầm, nhỏ thôi...
(Chợ Viềng)
Thông thường, người ta đến chợ để mua bán hàng hóa, trao đổi vật dụng, còn nhà thơ lại chỉ “bán lẻ chuỗi ngày đơn côi”, cái mà chẳng ai cần mua. Thế mà Bành Thanh Bần vẫn đem bán. Kể cũng lạ. Nhưng nếu đọc hết bài thơ ta lại thấy ông mới chính là người có lý. Bởi lẽ “Đội ơn Trời, Phật linh thiêng/ Cầu được ước thấy. Tôi, em…xuân này…”

Nhiều câu, nhiều đoạn của thể thơ truyền thống dân tộc đã được Bành Thanh Bần làm mới lại qua cách “đổ đèo” riêng của ông khá ngoạn mục, mới lạ, mạnh bạo, nhưng lại khá hợp lý:
Người xưa đau đáu nỗi gì
mà khắc vào đá mà ghi giữa đời
...
Hỏi trời,
Trời có biết không?
Hỏi đá,
Đá cứ lặng câm…
Hỏi người:
- Em ơi!
Em lắc đầu, cười…
Lấp lánh khuyên bạc treo trời lửng lơ…
(Ở bãi đá cổ Sa pa)
Ở đoạn thơ trên, nhà thơ đã táo bạo ngắt hai từ cuối nằm trong phạm vi cú pháp của câu tám theo niêm luật của thể thơ này, tách ra thành một câu riêng biệt, mang tính chất chuyển ý khá hợp lý, tạo nên được một sự bất ngờ thú vị.
Còn ở bài này, ông lại ngắt câu sáu trong thể lục bát ra làm ba dòng, tạo nhịp ngưng hơi trong khi đọc, gây được cảm giác mới lạ:
Tàn đêm
Trời đã sáng
Và
Tôi quỳ trước Chúa như là con chiên…
(Tiếng chuông nhà thờ)
Đây lại là một cách “đổ đèo” khác với cụm từ “bất ngờ” và động từ “ngã” lặp
đi lặp lại nhiều lần, những từ ngữ mộc mạc, chất phác, không bị yếu tố “làm văn” gây áp lực, nên ngôn ngữ thơ gần với đời sống hơn, làm nên một diện mạo mới, tạo sự bất ngờ cho ý thơ:
Bất ngờ
nàng ngã vào tôi
Bất ngờ
ngã một nụ cười vào mây
Bất ngờ
mây ngã trên tay
Tóc nàng đổ xuống ngã đầy vai tôi
Bất ngờ mây giấu làn môi
Bất ngờ gió
để cho tôi… bất ngờ!
(Bất ngờ trên Tản Viên Sơn)
Tóc người thiếu nữ đổ xuống ngã đầy vai người đàn ông là một hình tượng thơ đẹp, giàu liên tưởng, vì dường như điều ấy bất kỳ người đàn ông nào cũng đã từng gặp ở đâu đó một lần trong đời. Nhưng quan trọng là những điều xảy ra trên đây chẳng có chủ đích, mà chỉ là sự ngẫu nhiên. Chính cái sự “bất ngờ” ngẫu nhiên đến chết người ấy, lại đích thực là thơ. Chất thơ thường toát lên từ giọng điệu và thi tứ, chứ không phải là sự cố tình gò ép, nắn gọt câu chữ mà nên.
Nói là bất ngờ vậy thôi, chứ thực ra cả hai đều biết tỏng chuyện gì sẽ xảy ra, nhưng tình cảm con người đâu phải lúc nào cũng nói thẳng tuột ra được. Dường như cái khoảng mờ ảo, sự khó nói ra ấy là để dành cho thơ. Bành Thanh Bần đã biết tận dụng một cách khéo léo thời khắc ấy mà viết nên những câu thơ dùng dắng, ngập ngừng về chuyện không dễ nói ra. Những câu thơ được ngắt ra, tách dòng như trên có thể tìm thấy khá nhiều trong thơ của Bành Thanh Bần làm cho diện mạo thơ lục bát của ông có sắc thái riêng, mang lại hiệu quả thẩm mỹ nhất định.
Bài “Ngoài này Hà Nội vẫn mưa” cũng có những câu thơ hay và đẹp như thế:
Sông Hương thuyền vẫn gác sào
Tình anh em vẫn neo vào lưng ong?
Trường Tiền cong nét mi cong
Nhớ anh đừng chớp kẻo giông bão về…
Có thể nói câu thứ 2 và câu thứ 4 của khổ thơ trên là những câu thơ hay, tạo được sự bất ngờ trong liên tưởng của người đọc. “Neo” tình anh vào lưng cong của cô gái Huế hay cái chớp mắt của em có thể làm bão giông kéo về là cách nói rất thơ của Bành Thanh Bần.
Còn đến lễ chợ Viềng, chẳng hiểu sao mà người thơ cứ tha thẩn mãi thế. Hóa ra là:
Lễ xong
Ra đến cửa Đền
Nhấp nhô sóng lễ bơi trên sóng người!
Ngực em chạm phải ngực tôi
Để mâm lễ cứ chơi vơi trên đầu
Lóng ngóng tay biết đặt đâu
đưa lên, ngực lại chạm nhau, bồi hồi
(Tha thẩn Chợ Viềng)
Bốn câu cuối của đoạn thơ trên rất gợi, tạo cho người đọc nhiều phán đoán, suy tư về cái điều mà ai cũng hiểu, nhưng lại chẳng dễ nói ra. Kín đáo, không bộc trực vốn là một trong những phẩm chất của người Á Đông. Phẩm chất ấy được thể hiện khá rõ trong các thể thơ truyền thống Việt, đặc biệt là thể lục bát, một thể thơ đậm chất dân tộc. Bành Thanh Bần đã thể hiện khá thành công phẩm chất ấy trong một số thi phẩm của mình.
Vào cửa Đền, chốn linh thiêng, trầm mặc, nhưng chẳng ai có thể tránh hết được những va chạm nho nhỏ giữa sóng người nhấp nhô đi lễ. Chạm vào người nhau âu cũng là chuyện thường tình. Đối với thi sĩ, sự khác người là ở chỗ biết biến cái bình thường thành cái không bình thường chút nào, khiến người đọc phải liên tưởng, suy nghĩ và phải thốt lên, sao không chạm vào nơi khác, cái khác mà lại cứ phải chạm vào ngực nhau như thế hở trời. Chỉ thế thôi cũng đã chết người rồi còn gì nữa. Mà cứ hễ chạm là mâm lễ lại chơi vơi trên đầu, lấy tay đâu mà giữ. Giữ được mâm lễ thì lại không giữ được chỗ khác, thế có khổ không cơ chứ. Có không ít những câu lục bát hay từ trước tới giờ và đây cũng là một trong số những câu lục bát được xếp vào hạng hay, không thể phủ nhận được.
Leo đèo lội suối lên thăm một cô giáo vùng cao, chẳng may gặp phải cơn mưa. Cô xòe ô vội ra đi, thì bất ngờ gặp người quen. Người con trai thì:
Cầu trời cho gió thôi bay
Mưa xiên đừng ướt vầng mây ngọc ngà
Ngước lên em chợt nhận ra
Ô rơi
- Ướt hết “người ta”, bắt đền!
Vầng mây ấm, nụ môi mềm
Tôi ngợp thở trước sân thềm…ngợp mưa
(Cô giáo vùng cao)
Bài thơ khá tự nhiên về ý, mộc mạc về lời, nhưng vẫn đem đến cho người đọc một sự cảm thụ tươi mới của đôi bạn trẻ lâu ngày gặp nhau trong lúc trời mưa. Ông trời thật đáng trách. Cớ sao lại đổ mưa vào lúc này để ô của em rơi, làm ướt hết “người ta”, để em “bắt đền” khiến tôi ngợp thở trước sân thềm bởi nụ môi mềm.
Tư chất vốn có của nhà thơ, như là một tài sản được trời phú. Đấy mới là tiền đề, là bước khởi đầu, nhưng để biến tài sản ấy thành tài sản riêng của mình, ngoài chất liệu cuộc sống, nhà thơ cần một quá trình chưng cất thật sự công phu, lao tâm khổ tứ, lao động nghiêm túc mới thành thơ được.
Đương nhiên là ranh giới giữa sự dân dã, mộc mạc, chất phác và sự dễ dãi, sơ lược trong văn chương nói chung và thơ nói riêng là hết sức mong manh, nhiều khi không thể phân biệt được. Nhà thơ Bành Thanh Bần là người chuộng sự dân dã trong suy tư cũng như ngôn ngữ biểu đạt thơ nên cũng khó vượt qua được ranh giới ấy. Ở một số câu, bài, sự dễ dãi, mộc mạc lấn át bản tính tự nhiên vốn có của văn chương, thơ phú. Một số câu, bài, ngắt câu, “đổ đèo” còn gượng ép nên làm mất tính tự nhiên của ngôn ngữ và giọng điệu của thơ.
Tuy nhiên nhìn chung thơ Bành Thanh Bần viết khá đều tay, có nhiều tìm tòi, sang tạo, đặc biệt là ở khâu lập ý, tạo tứ và ngắt nhịp làm cho người đọc cảm thấy hứng thú hơn, bớt đi nhàm chán, nhất là trong thời điểm thơ ca đang có nguy cơ làm đọc giả “bội thực” như hiện nay. Hy vọng rằng nhà thơ Bành Thanh Bần không dừng lại ở những thành công bước đầu, mà sẽ đem đến cho bạn đọc những vần thơ tươi mới hơn./.
……………………
(*)Bất ngờ. Thơ của Bành Thanh Bần. Nxb Hội Nhà văn, 2010; Rượu trời. Thơ lục bát của Bành Thanh Bần. Nxb Hội Nhà văn 2012; Thả nhớ vào sông. Thơ của Bành Thanh Bần. Nxb Hội Nhà văn 2012.

Dưới đây là các bài thơ đã được Nhà lý luận phê bình văn học Đỗ Ngọc Yên trích dẫn
Với những người ăn mày ở chùa Hương
Tôi đến ăn mày Phật
Bạn lại ăn mày tôi
Những mảnh đời cơ nhỡ
Ngửa tay xin “lộc” người!
Không rõ bạn là ai
Người nông dân mất đất
Những bờ xôi ruộng mật
Dự án “ma” cướp rồi?
Hay: Bão lụt liên hồi
Cơ nghiệp lũ cuốn mất
Đành nương thân cửa Phật
Ngày qua ngày cầm hơi?
Hay: Chứng khoán một thời
Đầu tư quá “máu lửa”
Để bây giờ nón ngửa
Hứng từng đồng xu… rơi?
Hay làm ăn chây lười
Suốt ngày mê đề đóm
Gia sản đã đội nón
Theo nhau ra đê rồi?
Mưa lắc thắc ngoài trời
Thương các bạn rét quá
Lệ từ muôn mắt lá
Từng giọt! Từng giọt… rơi!
Tôi có chút đỉnh thôi
Xin tặng cho các bạn
Cùng trái tim đồng cảm
Mầm thơ đang đâm chồi…
Viếng mộ cụ Phùng Quán
Đầu gối Sơn
Chân đạp Thủy
Thi nhân - Chiến sĩ
Như Cụ- mấy người?
Những kẻ ngạo nghễ cười
Nay lặng câm như thóc!
Ôi! "Ba phút sự thật"*
Hiển hiện bao nỗi đời.
Cá câu trộm, sách viết chui...
Đời quanh năm thiếu nợ!
Từ tận cùng đau khổ
"Tuổi thơ dữ dội"* chào đời!
"Lời Mẹ dặn"*: Làm người
Phải biết yêu chân thật!
Lánh chốn đông, đất chật
Giờ thỏa kiếp rong chơi!
Chú cá nào mắc lưới?
Rung rung râu, Cụ cười...
___________
* Những tác phẩm của Thi sĩ Phùng Quán
Đêm Trung thu ở chùa Bồ Đề *
(Kính tặng : Sư thầy Thích Đàm Lan ,
Các Ni cô , Phật tử chùa Bồ Đề - Gia Lâm - Hà Nội
Những đứa trẻ bất đắc dĩ chào đời!
Đêm múa Lân cười như nắc nẻ…
Những người mẹ từ chối quyền làm mẹ
Trung thu nay
Họ đang ở đâu rồi?
Dẫu ở đâu.
Dù góc biển chân trời?
Hẳn còn nhớ dưới gốc cây Bồ đề đêm ấy
Lấm lét bỏ lại núm ruột của mình, nước mắt giàn giụa chảy
Nhà chùa ra… xe khuất dạng cùng người!
Còn bao nhiêu ngang trái ở đời
Sinh con ra không thể nuôi con được?
Bầu sữa cương, đêm đêm nhức buốt…
Mái chùa xa . Con khóc xé trời !
Những mảnh đời lánh chốn Trần ai
Khoác áo nâu sồng nương thân cửa Phật.
Đêm tụng kinh chợt nghe tiếng khóc
Biết ngoài cổng chùa thêm đứa trẻ bỏ rơi...
Nước sông Hồng cuồn cuộn chảy xuôi
Chùa Bồ đề : Cõi Niết bàn Trần thế?
Những người mẹ từ chối quyền làm mẹ
Những Ni cô làm mẹ thay người!
Đêm Trung thu trăng dát bạc trên trời
Bánh dẻo, kẹo, trái cây… Bà Tiên nào mang tặng?
Phật tử thập phương đến dự đêm này
Ngắm các cháu vui cười mắt ai cũng cay cay
Những đứa trẻ chưa một lần được nhay vú mẹ…
Và thương nhất - Ni cô rưng rưng lệ :
Có lần ra gốc cây thấy một sinh linh bé nhỏ đã chết rồi!
Đêm Trung thu.
Mâm trăng chầm chậm trôi…
Nhịp trống lân rung rinh trời Hà Nội!
Thiếu phụ đứng bên tôi tức tưởi:
Ôm chặt một cháu bé vào lòng, nức nở gọi :
- Con ơi!
Lễ động thổ vắng anh
Lễ động thổ xây nhà cho các con anh
Không có anh, dẫu anh là bố
Trong tờ Sớ vẫn tên anh là chủ
Em thầm đọc lên lòng bỗng nghẹn ngào…
Các con anh hỏi mẹ vì sao
Bố con không về sáng nay hả mẹ?
Cứa lòng em lời con thỏ thẻ
Các con ơi, vái thay bố đi nào…
Vẳng đến tai em lời hàng xóm thì thào
Sao bố chúng không về phải mượn người động thổ?
Họ đâu biết từ khi tình tan vỡ
Anh lấy người ta ngôi nhà họ mới xây anh đã đứng tên động thổ rồi
Ngôi nhà ông bà chia cho nay ngửa cổ thấy giời
Thương em, thương các cháu bơ vơ, ông bà cho thêm tiền xây lại
Tìm kiếm mãi không có người đúng tuổi
Làm lễ động thổ cho ngôi nhà này, em biết cậy nhờ ai?
Nếu anh về
Lòng em sẽ nguôi ngoai
Anh biết không
Cả ngày qua em mỏi tìm khắp phố…
Công an hộ khẩu phường thương em, mách nhỏ…
Em mượn tuổi người dưng nhờ động thổ thay anh!
Chín nhát cuốc bổ vào nền nhà có động đến trời xanh?
Các con bíu chặt em,
Trời đổ mưa nặng hạt
Bát nhang cúng ngoài trời ngơ ngác
Khói ngoằn ngoèo bay lên, bay lên…
Nước mắt của trời?
Hay nước mắt của em?
Ngôi nhà sắp xây, bến đỗ bình yên
Mong đón anh về đàn con thơ dại
Khấn thầm với trời xanh.
Lòng em thắt lại
Bóng ai động bên thềm, có phải anh không?
Chợ Viềng
Chợ Viềng
Bán rủi mua may
Tôi đem bán lẻ chuỗi ngày đơn côi
Trong Đền, em khấn cạnh tôi:
-“Cầu duyên Tần - Tấn
… mong Người độ tâm”!
Chắp tay tôi khấn thì thầm
Sợ ai nghe - chỉ lầm rầm, nhỏ thôi …
Ngó sang - Em nhoẻn miệng cười
Bát nhang bỗng Hoá lửa ngời sáng đêm!
Đội ơn trời phật linh thiêng
Cầu được ước thấy tôi, em... xuân này.
Sân đền mưa bụi bay bay...
Ở bãi đá cổ Sa Pa
Người xưa
Đau đáu nỗi gì
mà khắc vào đá
mà ghi giữa đời?
Đá ơi!
Ai rắc lưng đồi
Non xanh lưu dấu cõi người ngàn năm
Hỏi trời
Trời có biết không?
Hỏi đá
Đá cứ lặng câm. Hỏi người:
- Em ơi!
Em lắc đầu, cười…
Lấp lánh khuyên bạc
treo trời lửng lơ
Lòng anh thành đá người xưa
Nụ cười lúng liếng
em vừa khắc lên…
Tiếng chuông nhà thờ
Biết rằng em đã có chồng
Con em thơ dại
Mà lòng vẫn xao
Đêm, ngày
Những ước cùng ao
Thế rồi…
Tôi đã lạc vào cõi em
Triền đê
Cỏ rối lưng mềm
Sao trời nhấp nháy, bờ đêm hai người ...
Giáo đường vẳng tiếng chuông rơi
Em làm dấu thánh mong Người thứ tha…
Tàn đêm
Trời đã sáng
Và
Tôi quỳ trước Chúa như là con chiên…
Bất ngờ trên Tản Viên Sơn
Bất ngờ
Nàng ngã vào tôi
Bất ngờ
ngã một nụ cười vào mây
Bất ngờ
mây ngã trên tay
Tóc nàng đổ xuống
ngã đầy vai tôi
Bất ngơ
mây giấu làn môi
Bất ngờ gió
để cho tôi… bất ngờ…
Tha thẩn chợ Viềng
Lễ xong ra đến cửa Đền*
Nhấp nhô sóng lễ bơi trên sóng người
Ngực em chạm phải ngực tôi
Để mâm lễ cứ chơi vơi trên đầu…
Lóng ngóng, tay biết đặt đâu?
Đưa lên, ngực lại chạm nhau…bồi hồi…
Mâm chao, mấy thiếp vàng rơi
Tôi cúi nhặt, chạm nụ cười thật duyên…
Rồi, em vào lễ trong Đền
Rồi, người đến lễ như nêm…
Thế rồi
Sân đền mưa lất phất rơi
Tôi đứng đến nhọ mặt người…
Đợi em!
Chợ Viềng.
Tha thẩn tàn đêm
Tôi đi tìm nụ cười duyên…
đâu rồi?
Ngoài này Hà Nội vẫn mưa
Ngoài này
Hà Nội vẫn mưa
Trong em - Huế
Bão tạnh chưa hay còn?
Đường trần có lấm gót son
Áo em thả tím hoàng hôn phương nào?
Nón bài thơ gió nghiêng chao
Môi hồng đã giọt mưa nào đặt lên?
Tóc mây buông xõa vai mềm
Lá thu- Vàng rắc bên thềm xôn xao...
Sông Hương thuyền vẫn gác sào
Tình anh em vẫn neo vào lưng ong?
Trường Tiền cong nét mi cong
Nhớ anh đừng chớp kẻo giông bão về!
Cô giáo vùng cao
Leo ngàn thước tới thăm em
Mái trường mờ ảo, sương chen lối vào
Bềnh bồng trời thấp đất cao
Mây ngần cuống quýt trốn vào trong nhau...
Đột nhiên trời đổ mưa mau.
Xòe ô, em vội đi đâu lúc này?
Cầu trời cho gió thôi bay
Mưa xiên đừng ướt vầng mây ngọc ngà...
Ngước lên, em chợt nhận ra...
Ô rơi!
- Ướt hết "người ta” bắt đền!
Vầng mây ấm, nụ môi mềm
Tôi ngợp thở trước sân thềm ngợp mưa...
B.T.B
Nhà thơ Nguyễn Hoa, đại diện Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng lẵng hoa
Nguyễn Văn Mươi @ 11:07 20/01/2014
Số lượt xem: 730
Số lượt thích:
0 người
 
- Có ai cưỡi ngựa về Kinh Bắc… (11/12/13)
- Cái đẹp cứu rỗi con người (Về NGUYỄN ĐÌNH THI) (22/09/13)
- Nhà thơ Hữu Thỉnh: Cánh chim đầu đàn của thơ ca chống Mỹ (19/09/13)
- HÀ VĂN – CHIẾN SỸ NGUYỄN THI (08/07/13)
- Giang Nam, những miền đất đã hóa tâm hồn (05/06/13)
NGẮM HOA - THƯ GIÃN
DANH NGÔN MỖI NGÀY











Các ý kiến mới nhất